Tình
trạng nhập siêu luôn ở mức báo động, do có vấn đề trong việc nhập khẩu
quá lớn lượng máy móc thiết bị của nước ngoài, chứ không phải ô tô hay
hàng tiêu dùng...
Theo bộ Công thương, mấy năm qua, tỷ lệ giá trị sản xuất cơ
khí trong nước trên tổng giá trị toàn ngành cơ khí bị suy giảm mạnh.
Nếu như
năm 2002, tỷ lệ này là 45%, đến năm 2007 còn 31,34%. Trong khi đó, kim ngạch
nhập khẩu ngành cơ khí tăng. Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng năm
2000 đạt 4 tỉ USD; năm 2007: 14,8 tỉ USD và năm 2008: 19 tỉ USD, bằng 24% tổng
giá trị nhập khẩu.
Trong khi đó, xuất khẩu các sản phẩm cơ khí năm 2007 đạt 2,3
tỉ USD, và năm 2008: 2,9 tỉ USD. Do đó, nếu sản phẩm cơ khí trong nước phát
triển, xuất khẩu nhóm hàng cơ khí được đẩy mạnh, chắc chắn sẽ làm giảm rõ rệt
tỷ lệ nhập siêu.
Trong một văn bản cuối tuần qua gởi Thủ tướng Chính phủ,
hiệp hội Cơ khí Việt Nam đưa ra thống kê: trong giai đoạn 2007 – 2025, riêng
tổng vốn đầu tư cho các nhà máy nhiệt điện chạy than, thuỷ điện, xi măng lò
quay, sản xuất allumin đã cần tới 107 tỉ USD để mua, lắp đặt máy móc, thiết bị.
Nếu như các doanh nghiệp sản xuất cơ khí trong nước thực hiện được 50% trong
tổng nguồn vốn đó, thì đã làm giảm đi 53,5 tỉ USD giá trị hàng nhập khẩu.
Không phải năng lực sản xuất của các doanh nghiệp cơ khí
Việt Nam
quá yếu. Mấy năm nay, nhiều doanh nghiệp tiến bộ nhanh trong lĩnh vực cơ khí.
Ví dụ: tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) đã làm tổng thầu EPC đầu tiên của
Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu 2 – 3 của nhà máy lọc dầu Dung Quất; chế
tạo phần lớn các thiết bị chính của nhà máy nhiệt điện Na Dương, Phú Mỹ 3,4;
làm tổng thầu EPC nhiệt điện Uông Bí (300 MW), nhiệt điện Cà Mau 750 MW…
Tổng
công ty Cơ điện xây dựng nông thôn và thuỷ lợi cũng đã sản xuất được những
thiết bị lớn cho các công trình thuỷ điện: Sơn La, Ba Hạ…; chế tạo thành công
những cẩu trục lớn so sức nâng trên 400 tấn...
Theo ông Phạm Hùng,
tổng giám đốc Lilama, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đủ khả năng thiết kế,
chế tạo, lắp đặt trọn vẹn các nhà máy nhiệt điện than có công suất tổ máy lên
đến 600MW, và tham gia thiết kế, cung cấp máy móc chế tạo cho nhiều công trình
điện lớn khác với giá rẻ hơn nhiều các sản phẩm nhập khẩu, mà chất lượng tương
đương.
Tuy nhiên, hàng loạt các quy định, quy chế về đấu thầu, nhận thức của
chủ đầu tư nhiều công trình, dự án về sản phẩm cơ khí trong nước, đã khiến cho
việc ứng dụng các sản phẩm cơ khí nội địa dừng ở một tỷ lệ rất hạn chế, và
khiến cho ngành cơ khí Việt Nam chậm phát triển.
Chính phủ không phải không có các chính sách để phát triển
ngành cơ khí như đã có quyết định (số 186/2002/QĐ-TTg) phê duyệt chiến lược
phát triển ngành cơ khí, trong đó có nhiều cơ chế ưu đãi để phát triển như: các
dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm được hỗ trợ vay ưu đãi đặc
biệt (từ ngân hàng Phát triển Việt Nam) với lãi suất 3%/năm trong 12 năm. Nhưng
bảy năm qua, chỉ có một dự án đầu tư chiều sâu của công ty Cơ khí Hà Nội được
vay 100 tỉ đồng với lãi suất này.
Hàng loạt các dự án khác không vay được, hoá
ra chỉ vì các văn bản hướng dẫn đã bó hẹp phạm vi cho vay chỉ còn là dự án đầu
tư toa xe đường sắt, sản xuất động cơ diesel trên 300 mã lực.
Nhận ra nguy cơ khi khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài,
máy móc, thiết bị giá rẻ nước ngoài tràn vào Việt Nam, thì sản xuất trong nước
càng khó khăn, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ tìm giải pháp để các dự án, công
trình sử dụng vốn ngân sách phải tận dụng sản phẩm cơ khí nội địa.
Một dự án
điểm về nghiên cứu ứng dụng thiết kế, chế tạo thiết bị đồng bộ cho các nhà máy
nhiệt điện chạy than có công suất đến 600MW đang được liên bộ (Công thương,
Khoa học công nghệ, Tài chính) đề xuất triển khai bằng kinh phí hỗ trợ từ ngân
sách trên 165 tỉ đồng.
Trước mắt, có thể áp dụng tại dự án nhà máy nhiệt điện
Vũng Áng 1 (2 x 600MW) và dự án nhiệt điện Hải Phòng 3 (4 x 600MW)…
Đón bắt được chủ trương này, hiệp hội Cơ khí Việt Nam đã đề
nghị sửa luật Đấu thầu theo hướng: các dự án dùng vốn ngân sách nhà nước sẽ cho
chỉ định thầu, hoặc tổ chức đấu thầu trong nước; nếu các doanh nghiệp nước
ngoài tham gia thầu phải liên danh, hoặc chỉ làm thầu phụ cho doanh nghiệp Việt
Nam.
Bộ Công thương cũng có đề nghị cho các doanh nghiệp mua sản phẩm cơ khí
trọng điểm trong nước vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi.
Tổng công ty Lắp
máy Việt Nam đã có đề nghị Thủ tướng cho tách các gói thầu có thể sử dụng sản
phẩm, thiết bị cơ khí trong nước ở các dự án lớn để các doanh nghiệp trong nước
cung ứng, lắp đặt…
Những kiến nghị này, có cái hợp lý (như hỗ trợ lãi suất),
cũng có cái bất hợp lý (chỉ định thầu)…, nhưng tất cả phải được xem xét để
quyết định sao cho việc áp dụng không vi phạm theo nguyên tắc của WTO và không
kéo dài tình trạng bảo hộ.
Hiện nay, khi sản xuất trong nước khó khăn, tỷ lệ
thất nghiệp tăng cao, và nhập siêu vẫn là bài toán nan giải, thì rõ ràng, Chính
phủ cũng phải có lựa chọn chính sách thực tế.
Ưu đãi về thuế hay lãi suất cho
các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm cơ khí trong nước; cho vay ưu đãi để các
doanh nghiệp cơ khí đầu tư… có lẽ là những chính sách cần thiết cho các doanh
nghiệp cơ khí, bởi đây là ngành luôn đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài
và lợi nhuận không cao, nên rất khó khăn khi đi vay từ các tổ chức tín dụng.
Theo Mạnh Quân
SGTT